Người mua thường muốn một bảng so sánh để chọn. Bảng thì có, nhưng phải biết cách đọc.
Vì các con số và mô tả trong bảng là đặc điểm, không phải điểm số.
Đây là khuôn chung, từng trại cụ thể vẫn có thể lệch.
| Vùng | Màu | Hương | Độ loãng | Sản lượng |
|---|---|---|---|---|
| Rừng, ven rừng | Sẫm | Đậm, phức tạp | Vừa | Rất thấp |
| Cao nguyên | Sẫm vừa | Đậm, có hương cây rừng | Vừa | Thấp |
| Vườn cây ăn trái | Nhạt tới vàng | Thơm trái cây | Loãng hơn | Khá hơn |
| Miệt vườn sông nước | Nhạt | Nhẹ, thơm | Loãng nhất | Khá |
| Vùng khô ven biển | Vàng sáng | Rõ, hương cây chịu hạn | Đặc hơn chút | Thấp |
| Đô thị, sân thượng | Nhạt | Nhẹ, từ cây cảnh | Vừa | Rất ít |
Không có cột nào là điểm cao hay điểm thấp. Sẫm không hơn nhạt, đặc không hơn loãng.
Cách dùng đúng là tìm dòng mô tả gần với thứ mình thích, rồi tìm mua mật vùng đó.
Ví dụ ai thích vị đậm dùng ít thì tìm mật vùng rừng hoặc cao nguyên. Ai muốn dùng hằng ngày pha nước thì mật vườn nhẹ hơn, dễ uống hơn.
Ở Đồng Nai, mật mang đặc điểm giữ nguyên phấn hoa, không lọc kỹ, không đun nóng, tương ứng với dòng của vùng này.
Bảng là khuôn chung của vùng, nhưng mỗi trại có vi khí hậu và nguồn hoa riêng.
Hai trại cách nhau vài cây số trong cùng một huyện có thể cho mật khác nhau đáng kể, nếu cây quanh đó khác nhau.
Cách thu và cách lọc cũng ảnh hưởng: thu khi bọng già thì hương đậm hơn, lọc kỹ quá thì mất phấn.
Vì vậy bảng để định hướng, còn quyết định thì vẫn nên dựa trên việc nếm thử.
Bước một: xác định mình thích vị nào, đậm hay nhẹ, dùng nhiều hay ít.
Bước hai: chọn hai ba vùng có mô tả gần với gu đó.
Bước ba: mua chai nhỏ từ mỗi vùng, nếm so trong cùng một buổi.
Bước bốn: chọn nơi hợp nhất rồi mua ở đó lâu dài. Quan hệ với một nguồn đáng tin có giá trị hơn nhiều so với việc mỗi lần thử một nơi.
Giá giữa các vùng chênh nhau chủ yếu do sản lượng và độ khó khi thu, không do chất lượng.
Vùng rừng sản lượng thấp và đường đi lại khó nên giá cao hơn. Vùng vườn thu thuận lợi hơn nên giá mềm hơn. Cả hai đều là mật thật.
Nếu chọn theo giá cao nhất vì nghĩ là tốt nhất thì có khi mua phải thứ không hợp gu mình.
Cách hợp lý là chọn theo mô tả trước, rồi mới so giá trong nhóm đã lọc ra.
Không có bảng nào thay được việc nếm thử, vì cùng một vùng mà mỗi trại vẫn khác nhau.
Dùng bảng để thu hẹp từ mười lựa chọn xuống còn hai ba, rồi nếm để chọn nốt.
Và nhớ rằng gu của mình cũng đổi theo thời gian, nên vài năm sau thử lại một vùng từng thấy không hợp cũng là chuyện đáng làm.
Thường là vùng rừng và cao nguyên, do nguồn hoa cây thân gỗ.
Vùng khô hơn cho mật đặc hơn chút nên thường để được lâu hơn.
Do nguồn hoa quanh mỗi trại và cách thu khác nhau.
Hai ba vùng có mô tả gần gu mình là đủ.
Không kém về chất lượng, chỉ là lượng rất ít và hương nhẹ hơn.
Sản lượng thấp, giá không rẻ, có mùa hết hàng và vị lại chua. Vậy điều gì đã giữ người ta gắn bó lại qua nhiều năm liền.
Không ít khách sau vài mùa mua mật thì muốn tự nuôi thử vài tổ. Những điều nên biết trước khi bước hẳn sang phía bên kia.
Khi khách biết hỏi đúng câu, người bán buộc phải nắm rõ nguồn gốc. Vai trò của người mua trong việc giữ chất lượng chung.
Không phải ai cũng hợp, và nói thẳng điều đó thì tốt hơn cho cả hai bên. Vài trường hợp nên cân nhắc kỹ trước khi quyết mua.
Món quà hiếm và có câu chuyện, nhưng cũng là món dễ bị hiểu nhầm nhất. Kinh nghiệm từ cả phía người tặng lẫn người nhận.
Tổng hợp các hiểu nhầm hay gặp nhất và lý do thật đằng sau từng cái một. Phần lớn đều đến từ việc đem so với mật ong thường.
Tiêu chuẩn thế nào là mật ong dú sạch: quy trình thu, dụng cụ, lọc, chứa, kiểm nghiệm cơ bản, những cách làm ẩu khiến mật mất chất. Viết cho cả người nuôi lẫn người mua.